TỔ QUỐC THÂN YÊU


Co To quoc Co Viet Nam Vietnam Flag

Thời gian là vàng ngọc

Nghe nhạc

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEBSITE

    Tài nguyên dạy học

    Danh ngôn song ngữ Anh - Việt

    CÂU LẠC BỘ VIOLET

    BẤO MỚI

    Nguyễn Bính - Đời thơ bạc mệnh

    Nguyen_binh
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Mục Đồng (trang riêng)
    Ngày gửi: 19h:48' 31-05-2011
    Dung lượng: 7.9 KB
    Số lượt tải: 6
    Mô tả:

     

     

    Nguyễn Bính xuất hiện lần đầu trên văn đàn năm 1936 với bài Mưa xuân.

    Trong Mưa xuân đã thấy xuất hiện hai đặc điểm: thơ ngâmthơ thoại. Nhờ hai yếu tố này mà thơ Nguyễn Bính sớm đi vào lòng người. Mưa xuân kể chuyện một cô gái quê đợi gánh chèo về làng hát trong dịp tết để gặp người yêu.

    Thời ấy làm thơ về cuộc sống thôn quê là một nhu cầu, một "tất yếu", hầu như nhà thơ nào cũng viết dăm ba “bức tranh quê”. Nhờ sự lựa chọn của Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam mà nhiều bài sau này trở thành bài học thuộc lòng cho học sinh như thơ của Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Tế Hanh, Bàng Bá Lân... , những câu dễ đọc, dễ nhớ:

     

    Chiều hôm đón mát cổng làng

    Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi (Bàng Bá Lân)

     

     Thơ Nguyễn Bính cũng dễ đọc, dễ hiểu, nhưng không thể trở thành bài học thuộc lòng cho trẻ nhỏ, bởi nó có tình và nó đi ra ngoài quỹ đạo “ngây thơ” của những "bức tranh quê" cùng thời. Dù với giọng rất vô tư, thơ Nguyễn Bính luôn luôn chở cái bi đát của số phận. Tính chất bi đát gắn bó với hai chữ bạc mệnh, tiềm ẩn ngay trong những câu thơ tưởng như vui nhất của bài Mưa xuân:

     

    Em là con gái trong khung cửi

    Dệt lụa quanh năm với mẹ già

    Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

    Mẹ già chưa bán chợ làng xa (Mưa xuân)

     

    Lời người con gái tự giới thiệu mình: nàng ví nàng như cây lụa trắng mà mẹ chưa đem bán. Nếu nói thơ Nguyễn Bính có chất ca dao, thì quyết không phải là ở những yếu tố ngoài da như thôn Đông, thôn Đoài, mà ở đây, gói trọn trong câu “mẹ già chưa bán chợ đàng xa” đã có chất ca dao (thân em như tấm lụa đào, nắng mưa giữa chợ biết vào tay ai). Rồi nhờ ở chữ bán, nó còn có chất Nguyễn Du (rẽ ra cho thiếp bán mình chuộc cha) nữa.

    Ngay trong những câu thơ “khai bút”, ở tuổi 18, Nguyễn Bính đã nhìn thấy số phận bán mình của người phụ nữ, một ảnh hưởng Kiều và ca dao giao thoa trong tư tưởng.

    Người con gái quê trong bài thơ Mưa xuân ấy, rất mới, nàng đợi người tình trong đêm hát chèo, lòng say đắm:

     

    Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm

    Em mải tìm anh chả thiết xem

    Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh

    Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em (Mưa xuân)

     

    Hai câu: Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh / Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em chứng minh một thiên tài vừa xuất hiện, với hai hình ảnh đắt giá "đêm nay giường cửi lạnh" "thoi ngà nằm nhớ ngón tay em", nhẹ nhàng, thanh thoát, tự nhiên như lời nói, nhưng về mặt nghệ thuật thi ca là những hình ảnh tuyệt vời, sâu sắc, hiếm quý, khơi gợi nhục tình.

    Nhưng gã trai lỗi hẹn, và:

     

    Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay

    Hoa xoan đã nát dưới chân giày

    Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

    Mẹ bảo:“Mùa xuân đã cạn ngày” (Mưa xuân)

     

    Nhưng người tình không đến, hội làng đã hết: mưa xuân đã ngại bay, và hoa xoan đã nát dưới chân giày, lại những hình ảnh tuyệt vời nữa. Tất cả chấm dứt bằng lời mẹ “xuân đã cạn ngày” như một chung kết cho tàn lụi: xuân đã chết.

    Thơ xuân Nguyễn Bính, ngay trong buổi đầu đời, đã gắn bó với bất hạnh, đớn đau, tuyệt vọng, lụi tàn: Sự bạc bẽo của người tình ngay trong mùa xuân đã trở thành vết thương vĩnh viễn trong thi ca Nguyễn Bính:

     

     Nhưng rồi người khách tình, xuân ấy

    Đi biệt không về với... bến sông

    Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi

    Mấy lần cô gái mỏi mòn trông (Cô lái đò)

     

    Đó chính là cái khác biệt sâu xa giữa những câu thơ “quê mùa” của Nguyễn Bính với những “bức tranh quê” cùng thời: các nhà thơ khác chỉ viết ra những lời tả cảnh, vui tươi, nhộn nhịp cảnh chợ, cảnh làng, cho học trò học.

    Nguyễn Bính lấy cảnh quê làm nền để vẽ bi kịch của con người khuất sau, mà luôn luôn là bi kịch của người phụ nữ bị bỏ rơi, bị phản bội, bi kịch của người bạc mệnh.

    Nếu chiếu vào thân phận Nguyễn Bính, người bạc mệnh ấy chính là Nguyễn Bính.

     

    Ra đời được ba tháng thì mẹ mất, không được học trường, học ở nhà với cha và cậu. 13 tuổi làm thơ. 15 tuổi lang thang lên Hà Nội “lập thân”, làm nghề bán báo. 18 tuổi (1936) có thơ đăng báo. 19 tuổi (1937) được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn. 20 tuổi (1938), trở thành một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thời ấy... Nhưng chìm sâu trong tâm thức Nguyễn Bính, vẫn có một mặc cảm u buồn về bản thân, không mẹ, không được học “đến nơi đến chốn”:

     

     Còn tôi sống sót là may

     Mẹ hiền mất sớm giời đầy làm thơ (Nhà tôi).

     Cái mặc cảm ấy có vì người đời đã “dạy” cho Nguyễn Bính. Dạy bằng nhiều cách. Dạy suốt cuộc đời.

    Nữ sĩ Mộng Tuyết kể lại khi Nguyễn Bính đến tá túc nhà ông bà ở Hà Tiên:“Người khách thâm thấp. Phong trần hiện trên mớ tóc đen rậm, rối bồng, dài tới mang tai. Bộ âu phục cũ nhầu nát làm cho người tăng thêm phần tiều tụy (...) Trong khi nghe anh Đông Hồ và tôi bàn chuyện Tam Quốc Chí, Bính không góp chuyện được, vì Bính chưa từng đọc Tam Quốc bao giờ. Bính thấy xấu hổ, cũng như đã xấu hổ vì chưa biết đi xe đạp. Càng xấu hổ, khi thấy tôi và Đông Hồ tỏ vẻ ngạc nhiên vì sao mà Nguyễn Bính lại có thể chưa đọc Tam Quốc Chí. Thế rồi, Bính về tìm trong Vạn Vạn Quyển Lầu, đọc ngấu nghiến, suốt mấy đêm liền, hết bộ truyện” (trích Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên, Văn số 60, ra ngày 15/6/66 tại Sài Gòn, trang 52 và 55).

    Nữ sĩ Anh Thơ, ghi lại trong hồi ký mối tình của bà với B, “người trong mộng, người lý tưởng, người tôi yêu bằng cả trái tim thơ tha thiết” rằng hai người đã “tha thiết yêu nhau” qua thư từ. Và bà kể lại về lần gặp mặt: “Tôi nhớ lại cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thúy Kiều. Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức trang nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi... Bỗng từ quán nước đầu cầu sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mắt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi...” (Từ bến sông Thương, nxb Văn học 1986, trang 101).

    Rồi bà giải thích sự tan vỡ này bằng cử chỉ của Nguyễn Bính “một cái hôn bất ngờ chộp lên má tôi”, khiến bà phải “thất thanh” gọi anh bà, bởi bà là “con nhà nề nếp” cho nên "không thể nào yêu được B, nên B luôn luôn bị thất vọng, từ cô này tới cô khác, và phải tìm quên ở tiệm hút, lầu xanh” (sđd, trang 103).

     

    Đấy là nhận xét của hai nữ sĩ. Đến nhà phê bình Hoài Thanh và nhà thơ Xuân Diệu, sự phê phán có tính chất "văn học" hơn.

    Trong bài Chân quê có câu: Hôm qua cô đi tỉnh về /Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều, (ý trách người con gái quê ra tỉnh học đòi theo mốt thị thành). Nhưng nhà phê bình Hoài Thanh (1) lại "vận" hai câu thơ đó vào thân Nguyễn Bính, một tác giả nhà quê, hơi có ngụ ý vô học nữa.

    Về Xuân Diệu, điều đáng trách nhất ở ông, là trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, Xuân Diệu đã thực sự trở thành bồi bút, viết bài mạ lỵ Lê Đạt, tố cáo Văn Cao và riêng đối với Nguyễn Bính cư xử rất tàn tệ. Lại Nguyên Ân, trong bài nghiên cứu, tựa đề:“Xuân Diệu trong những năm 1954-58”, cho biết: “Tác phẩm mới (1969-1976) mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ Việt thế kỷ XX (...) Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986”.

     

     

    Nghệ thuật tạo sầu gây tương tư

     

    Người ta chỉ yêu thơ Nguyễn Bính, yêu sự nổi tiếng của thi nhân, nhưng khi gặp mặt, người ta vỡ mộng, người ta chê nhếch nhác quá, người ta chờ đợi một tao nhân mặc khách Hà thành. Không ai lấy một nhà thơ lang bạt, chẳng có nghề ngỗng gì để nuôi thân:

     

    Không ai chôn cất hộ lòng tôi

    Mối lái cho tôi lấy một người (Vườn hoang)

     

    Tất cả phũ phàng của những “người yêu”, mà thư tình đầy ắp những hộp bích quy, như Tô Hoài thuật lại, dẫn đến điều lạ lùng và cũng dễ hiểu là những mối tình tha thiết nhất trong tâm hồn, Nguyễn Bính thường dành cho những người đàn bà không quen: Người hàng xóm, Cô lái đò, Cô hái mơ, Dòng dư lệ, Viếng hồn trinh nữ... tất cả đều... không quen, vậy mà “bao nhiêu đau khổ của trần gian trời đã dành riêng để tặng nàng” Nguyễn Bính đều biết cả. Mối cảm thông của Nguyễn Bính với những người phụ nữ mệnh yểu, bị tình phụ, ngoài tâm sự của chính mình, còn là sự giao cảm của nhà thơ với định mệnh, với cái chết, tương tự như mối linh cảm giữa Kiều và Đạm Tiên. Sự cảm thông tình yêu qua cái chết, giải thích mối linh ứng diệu kỳ giữa những người không quen ấy:

     

    Nàng đã qua đời để tối nay

    Có chàng đi hứng gió heo may

    Bên hồ để mặc mưa rơi ướt

    Đếm mãi bâng quơ những dấu giày...

     

    Người ấy hình như có biết nàng

    Có lần toan tình chuyện sang ngang

    Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé

    Đã cắm nghìn thu ở suối vàng

     

    Có gì vừa mất ở đâu đây?

    Lòng thấy mềm như rượu quá say

    Hoảng hốt chàng tìm trong bóng tối:

    Bàn tay lại nắm phải bàn tay

    ....

    Tôi với nàng đây không biết nhau,

    Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?

    Mỹ nhân tự cổ như danh tướng

    Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu. (Viếng hồn trinh nữ)

     

    Nhưng còn một yếu tố khác, đã khiến thơ Nguyễn Bính rung động nhiều thế hệ lòng người: âm điệu. Bất cứ người Việt nào xa nước đã lâu không về, tình cờ nghe thấy một âm giai ngũ cung, trong lòng không khỏi gợn lên chút gì, như tiếng sóng. Những tiếng ru, tiếng ngâm, thường cũng gợi trong lòng họ những tiếng rì rào thầm thỉ. Thơ Nguyễn Bính, là một hợp âm có thể gây ra trong lòng người Việt những tiếng sóng ngầm như thế:

     

    Gió đưa xác lá về đường,

    Thu sang nhuộm cả sầu thương một trời

    Sầu thương quyện lấy hồn tôi

    Đêm qua ngồi đọc thơ người xa xăm

    Một nghìn năm, một vạn năm,

    Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ

    Tặng người gọi một giòng thơ,

    Hay là giòng nước mắt thừa đêm qua. (Dòng dư lệ)

     

    Bởi âm nhạc trong thơ ông là những âm giai quen thuộc của lục bát, gióng lên đều đều như tiếng ru ạ ời, thêm tiếng định mệnh Kiều, tiếng than chinh phụ. Thơ Nguyễn Bính là hợp âm của nhiều thứ “tiếng” ấy, nó là một thứ âm giai ngũ cung trong lòng người Việt. Bởi thế, khi Nguyễn Bính nói lên tình yêu giữa những người không quen, giữa "tôi và nàng tuy không biết nhau", tưởng như cái gì không thực nhưng vẫn làm tan nát lòng người. Bởi người ta không yêu Nguyễn Bính trong đời thực. Đời thực chỉ có sự giả dối và phản bội. Nguyễn Bính đã tạo ra đời mộng để yêu và được yêu. Những người không quen biết nhau ấy đã gặp nhau trong mộng. Họ là những giấc mơ bạc mệnh của nhau. Họ sống mơ nhưng yêu thật, yêu cái mệnh bạc, yêu những giấc mơ vắn số, yêu sự cô đơn của chính mình. Phần hồn của kẻ cô đơn, tự chẻ đôi chẻ ba ra cho có bạn và mỗi nửa riêng lẻ, mỗi phần xẻ ra ấy, tự cảm thấy không còn cô đơn nữa:

     

    Những một mình em uống rượu hồng (Xuân tha hương)

     

    Hoặc:

     

    Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

    Một mình làm cả cuộc phân ly (Những người trên sân ga)

     

    Những câu thơ lạc ra ngoài nỗi cô đơn thông thường của nhân thế, bởi cái tôi nơi đây đã tự chẻ đôi chẻ ba ra, tự lũy thừa mình, tạo một cuộc sống tâm linh mới lạ, đớn đau và ngoạn mục mà dường như chỉ Nguyễn Bính nắm bắt được nghệ thuật biệt cách ấy: nghệ thuật tạo sầu Nguyễn Bính. Nghệ thuật tạo sầu của nhà thơ dựa trên tính chất bạc mệnh, yểu số của những giấc mơ, không chỉ nằm trong những bài thơ có chủ đề trực tiếp như Viếng hồn trinh nữ, Dòng dư lệ... mà còn bàng bạc ở cả những bài thơ vui như Cô hái mơ:

     

    Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

    Say nhìn xa rặng núi xanh lơ

    Khí trời lặng lẽ và trong trẻo

    Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ

     

    Hỡi cô con gái hái mơ già

    Cô chửa về ư? Đường còn xa

    Mà ánh trời hôm dần một tắt

    Hay cô ở lại về cùng ta?

     

    Nhà ta ở dưới gốc cây dương

    Cách động Hương Sơn nửa dặm đường

    Có suối nước trong tuôn róc rách

    Có hoa bên suối ngát đưa hương

     

    Cô hái mơ ơi!

    Chẳng trả lời nhau lấy một lời

    Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

    Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi (Cô hái mơ)

     

    Cả bài thơ là một giấc mơ, từ “ta” đến cô hái mơ, đến rừng mơ... may ra chỉ hai chữ Hương Sơn là thật. Giấc mơ trên động Hương Sơn. Cô hái mơ là một trong những bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính. Phạm Duy khi chọn bài thơ để phổ nhạc bài ca đầu tiên của đời mình đã có con mắt tinh đời: người nhạc sĩ trẻ tuổi ấy, đã nhìn thấy ở Cô hái mơ, không chỉ là một thực thể hữu hình, mà nàng còn là hiện thân của giấc mơ, hiện thân của sự sáng tạo, Cô hái mơ khai phóng những giấc mơ bạc mệnh của thi nhân, của nghệ sĩ.

    Hết rủ rê lơi lả “hay cô ở lại về cùng ta”, đến tiếng gọi khẩn khoản tha thiết:“Cô hái mơ ơi!”, nàng cũng chẳng thèm trả lời, nàng “cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng”, một cách rất liêu trai, huyền mộng, bởi tất cả chỉ là cuộc độc thoại của nhà thơ với chính mình. Trong rừng mơ có ai đâu, ngoài kẻ có khả năng chẻ mình làm hai để thoát khỏi cô đơn, để tạo thêm một đời sống nội tâm khác, ngoài mình, lũy thừa một mơ thành rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.

    Nghệ thuật tạo sầu của Nguyễn Bính phát xuất từ khả năng luỹ thừa vô cùng biến ảo và liêu trai ấy, từ cách vạn hoá tâm hồn ấy, Nguyễn Bính có những câu thơ tuyệt vời:

     

    Hồn anh như hoa cỏ may.

    Một chiều cả gió bám đầy áo em (Hoa cỏ may)

     

    Hoặc ngược lại, nhà thơ có thể hội tụ vạn tâm hồn trong một:

     

    Cả kinh thành có những ai?

    Cả kinh thành có một người mắt nhung (Mắt nhung)

     

    Nguyễn Bính dường như đã nắm trọn bí quyết làm xiêu đổ lòng người qua nghệ thuật phân kỳ và hội tụ cảm xúc và tâm linh.

     

    *

     

    Cô hàng xóm, đối với chúng ta, là hình ảnh gần gụi, thân quen. Nguyễn Bính có cô hàng xóm ấy thân quen ấy trong bài Xuân về:

     

    Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm

    Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong

     

    Nhưng nhà thơ còn có Người hàng xóm, một đối tượng khác. Rất khác. Bởi người khác cô. Người là người lạ, không quen. Ở cái quan hệ không quen không biết gì về nhau ấy, Nguyễn Bính đã viết nên bài thơ, có lẽ là một trong những bài thơ tình đẹp nhất của thế hệ ông. Đây là một bài thơ liên hoàn, không thể đọc câu trên mà không đọc tiếp câu dưới, lời lẽ hoàn toàn là ngôn ngữ hàng ngày, nhưng keo sơn gắn bó với nhau như một điệu nhạc, một âm giai ngũ cung bám vào hồn người Việt:

     

    Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

    Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn

    Hai người sống giữa cô đơn

    Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

    Giá đừng có dậu mùng tơi

    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng

    Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng

    Có con bướm trắng thường sang bên này...

    Bướm ơi, bướm hãy vào đây

    Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi

    Chả bao giờ thấy nàng cười

    Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên

    Mắt nàng đăm đắm trông lên

    Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi

    Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

    Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?

    Không, từ ân ái nhỡ nhàng.

    Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!

    Tơ hong nàng chả cất vào

    Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.

    Mấy hôm nay chẳng thấy nàng

    Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong

    Cái gì như thể nhớ mong?

    Nhớ nàng? Không, quyết là không nhớ nàng!

    Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng

    Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa

    Tầm tầm giời cứ đổ mưa

    Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!

    Cô đơn buồn lại thêm buồn

    Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

    Hôm nay mưa đã tạnh rồi

    Tơ không hong nữa, bướm lười không sang

    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng

    Rưng rưng tôi gục xuống bàn... rưng rưng...

    Nhớ con bướm trắng lạ lùng

    Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng

    Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng

    Mau về mà chịu tang nàng đi thôi

    Đêm qua nàng đã chết rồi

    Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng

     

    Hồn trinh còn ở trần gian

    Nhập vào bướm trắng mà sang bên này

     

    Bài thơ gói trọn tâm hồn và phong cách Nguyễn Bính: lung linh giữa mơ và thực. Người hàng xóm, nàng là mẫu người mệnh yểu, nàng có thật hay chỉ là giấc mơ nghệ sĩ, là sự chẻ đôi của tâm hồn? Là độc thoại của tình yêu, nàng là thơ thoại: nàng mang không gian và thời gian Nguyễn Bính, phản ảnh những cuộc tình chết yểu, những cuộc tình chưa ngỏ, chưa dám ngỏ, những cuộc tình bướm trắng trong mơ, những bất hạnh khổ đau trên con đường tìm hạnh phúc. Nàng giao liên giữa sự sống và cái chết, trong nỗi hoá kiếp Trang Chu. Nàng là mối hoài nghi: nhớ thương-thương nhớ? Nàng là sự phủ định lòng mình, là sự nói dối thành thật và thiêng liêng nhất của con người trước tình yêu và cái chết.


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Nguyễn Bính - Đời thơ bạc mệnh

    Avatar
    TRUNG THU VUI VẺ NHÉ THẦY
    Avatar
    THĂM ANH TRAI. TỐI CUỐI TUẦN VUI NHIỀU ANH NHÉ!
    Avatar

     

    Sang thăm thầy Bẩy , chúc thầy sk , công tác tốt , gia đình hạnh phúc , đón giáng sinh nhiều niềm vui !!!

    Avatar
    Chao thay Bay nha! Chuc thay va gia dinh suc khoe HP
    Avatar
    Cảm ơn thầy Bảy đã ghé nhà. Chúc thầy nhiều niềm vui. Mong thầy ghé thăm và chia sẻ.
    Avatar
    Chào thầy Bảy! Rất vui được thăm 'Nhà' thầy. Mọi thứ đều Đẹp-Mới-Khoa học. Chúc thầy luôn KHỎE.
    Avatar
    ĐT TỚI THĂM
     
    Gửi ý kiến

    Chúng ta cùng cười nhé !