TỔ QUỐC THÂN YÊU


Co To quoc Co Viet Nam Vietnam Flag

Thời gian là vàng ngọc

Nghe nhạc

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEBSITE

    Tài nguyên dạy học

    Danh ngôn song ngữ Anh - Việt

    CÂU LẠC BỘ VIOLET

    BẤO MỚI

    Gốc > Tác giả - Tác phẩm > Chân dung nhà văn , nhà thơ >

    Nguyên Hồng - Về tác gia và tác phẩm

    Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyên Hồng trước cách mạng tháng 8/1945

    Nghiên cứu đặc điểm nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 giúp người đọc hiểu thêm về những nỗi bất hạnh của con người trong xã hội thực dân phong kiến (đặc biệt là nhân vật trẻ em).

    Viết về những cảnh đời này Nguyên Hồng đã phản ánh một cách cụ thể, chi tiết từng mảnh đời, từng số phận để khái quát một cách toàn diện cuộc sống cơ cực, cay đắng của những trẻ em nghèo trong xã hội cũ. Đồng thời nhà văn cũng khẳng định bản chất lương thiện của con người, sự hướng thiện, tinh thần tương thân tương ái... của nhân vật trẻ em - Đó là một trong những lý do khiến cho tác phẩm của Nguyên Hồng bao giờ cũng thấm đậm một chủ nghĩa nhân đạo cao cả, bên cạnh một chủ nghĩa hiện thực mang đầy tính chất phê phán và phủ định xã hội đương thời.

    Văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đến 1945 đã xuất hiện khá nhiều tác phẩm viết về số phận của trẻ em trong xã hội thực dân phong kiến như:Những ngày thơ ấu - Nguyên Hồng, Hai đứa trẻ - Thạch Lam, Sống nhờ - Mạnh Phú Tư, Tắt đèn - Ngô Tất Tố, Trẻ con không được ăn thịt chó - Nam Cao... Những tác phẩm trên đều thể hiện thái độ phê phán quyết liệt đối với xã hội đương thời và thể hiện tấm lòng thương yêu tha thiết đến trẻ thơ (những người đáng lẽ được nâng niu, yêu quý, bảo vệ) của các nhà văn giàu lòng nhân ái này. Tuy nhiên, viết nhiều và phản ánh một cách khá toàn diện và khái quát về số phận của trẻ em Việt Nam giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 - thì phải kể đến những sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng. Nguyên Hồng đã viết về những sinh mệnh đáng thương này bằng chính những trải nghiệm đau đớn trong thời thơ ấu của mình nên có sức lay động lòng người sâu sắc.

    Đã có nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học đề cập đến vấn đề trẻ em trong sáng tác của Nguyên Hồng như: Thạch Lam, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Điệp...

    Khi khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài trẻ em của Nguyên Hồng trước Cách mạng Tháng 8/1945 như: Những ngày thơ ấu, Giọt máu, Hai nhà nghề, Những mầm non, Đi, Hơi thở tàn, Mợ Du,... chúng tôi thường thấy nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyên Hồng có đặc điểm: Là những đứa trẻ nghèo khổ, bất hạnh, không có tuổi thơ, bị xã hội đày đọa, tước đi những niềm vui, niềm hạnh phúc của mình; và đặc biệt là phải sống thiếu tình mẫu tử. Tuy vậy chúng vẫn là những đứa trẻ nhân hậu, luôn khao khát hạnh phúc gia đình, vượt lên những nỗi đắng cay, tủi nhục, đày đọa của cuộc đời để ước mơ có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những hình tượng nhân vật đặc biệt này dù được nhà văn khắc họa đậm nét hay thoáng qua đều tạo nên một sự thương cảm và một nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với người đọc.

    1. Những đứa trẻ nghèo khổ, bất hạnh không có tuổi thơ.

    Các nhân vật trẻ em của Nguyên Hồng, hầu hết đều là những đứa trẻ con các gia đình lao động nghèo khổ luôn bị đói rách và phải làm đủ mọi nghề để tồn tại. Chúng không có quyền và không tự bảo vệ được mình trong xã hội đầy cạm bẫy, bất công và luôn bị lạm dụng sức lao động một cách tàn nhẫn, vô cùng thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Những ngày thơ ấu là một tập hồi ký ghi lại những năm tháng ấu thơ đầy tủi cực cay đắng của chú bé Hồng. Mồ côi cha từ năm 12 tuổi, mẹ đi bước nữa và thường phải đi làm ăn xa, cậu bé thiếu ăn thiếu mặc, thiếu sự chăm sóc của người thân sớm phải lăn lộn nơi đầu đường xó chợ... đánh đáo kiếm ăn, chung đụng với đủ hạng trẻ lang thang. Tuổi thơ cần biết bao tình thương yêu ấp ủ của gia đình, vậy mà chú bé đã sớm bị mồ côi cha, lại phải xa mẹ, phải chịu sự hắt hủi không chỉ của người đời, mà ngay ở chính những người thân trong gia đình của mình. Tâm hồn non nót dễ tổn thương của cậu đã từng run lên vì giận dữ trước sự bêu riếu xúc phạm người mẹ của cậu dưới miệng lưỡi của bà cô cay nghiệt, và tủi cho mình vì còn quá nhỏ nên không chống đỡ nổi sự xúc phạm ấy. Xa mẹ cậu da diết nhớ thương, và đau đớn vì không thể giãi bày tâm tư mình với người cha đã mất... Nhất là những khi đói lòng, khi trời rét, những lúc đơn côi... một mình trơ trọi trước giông bão của cuộc đời.

    Những dòng hồi ký được chú bé Hồng ghi lại trong một sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại (Thạch Lam). Vì vậy, nó khơi gợi sự cảm thương sâu sắc, một niềm trắc ẩn sâu xa trong tâm hồn người đọc trước cảnh ngộ đau thương của nhân vật nhỏ tuổi này. Giáo sư Phong Lê đã xúc động viết: Tôi cứ ngẩn ngơ hoài trước một tuổi thơ sao mà cay cực đến thế, mà sao nhà văn có thể thành thực đến thế! Một sự thành thực đến tận cùng chi tiết khiến người đọc đến mà sững sờ, mà nổi gai nên trong tâm trí mà run rẩy đến từng cảm xúc [3;Tr.131]. Có lẽ, tác phẩm này trở nên xúc động đến vậy là do nhà văn đã lấy chính cuộc đời của mình cùng bao cảnh ngộ của những trẻ em khác xung quanh mình làm đối tượng phản ánh. Trong tập hồi ký này, ta còn gặp những đứa trẻ làm đủ mọi nghề nhỏ mọn khác như: Bán báo, bán xôi, đi ở, bế em hay nhặt bóng thuê, ăn mày, ăn cắp... ở khắp các ngõ hẻm, vườn hoa, cổng chợ, bến phà... Mỗi em một gương mặt, một cảnh ngộ, nhưng đều giống nhau ở cảnh đời lam lũ cơ cực, đói khát, bất hạnh. Chúng phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống, phụ giúp gia đình. Không những thế, các em còn bị xã hội, bị người đời lãnh đạm, hoặc bị chính những người thân của mình ngược đãi, hành hạ một cách tàn nhẫn như bé Hồng trong Những ngày thơ ấu, Thạo bé, Tý con, Tân trong Những mầm non, Nhân trong Hai nhà nghề...

    Đã từng bị đẩy vào nhà tù thực dân từ khi còn là trẻ con, sống ở một nơi chỉ có thói tàn nhẫn, độc ác, nên không ít lần cậu bé Hồng từng phải ôm mặt khóc mỗi khi đi làm "cỏ vê" về, khóc ngay dưới gốc cây bên cạnh xe bò rác. Cậu "tù trẻ con" khóc vì thương thân mình và nhớ lại tuổi ấu thơ cay cực đầy nước mắt. Sẵn có một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm với nỗi khổ của những thân phận bé nhỏ trong xã hội, nên nhà văn từng quặn đau khi phải chứng kiến cảnh: Mưa phùn tạnh từ hôm kia, nhưng gió rét càng thổi mạnh. Da thịt người nhức buốt vì khí lạnh. Con nhỏ của tù đàn bà khóc suốt đêm. Chúng khát sữa - sữa của mẹ chúng như cạn mất rồi [1 ,tr. 142]. Hay cảnh những ngày tết đến, khi mọi người được hưởng sự ấm cúng gia đình, thì những tù nhân trẻ con cùng với những bà mẹ tội nghiệp của chúng vẫn phải ở trong tù chịu sự đói khát, ốm yếu, bệnh tật (Tết của tù đàn bà)...

    Trong xã hội thực dân phong kiến, những người phụ nữ phải làm việc cật lực, vắt kiệt mình ra để kiếm tiền nuôi gia đình, nuôi đàn con. Cuộc sống lam lũ kéo dài đã bòn rút sức lực của họ, đã làm cạn kiệt dòng sữa của họ nên họ nuôi con nhỏ mà không có sữa cho con bú, để đến nỗi đứa bé phải khát sữa, từ giã cõi đời trong sự đau đớn xé lòng của những người mẹ nghèo, bất lực như nhân vật Cúc trong truyện ngắn Trước xác chết. Hình ảnh những đứa con khát sữa, chết vì không có sữa; hình ảnh những bà mẹ nghèo đói, cạn kiệt sữa với những bộ ngực lép, khô ép tận xương, đau đớn, bất lực, phát điên, phát rồ vì không thể cho con sự sống - luôn là hình ảnh trăn trở, nhói buốt tận tâm can nhà văn. Ông đã từng thét lên, gào lên trong tác phẩm của mình những lời đau đớn: Phải đem sữa lại cho những bà mẹ nhiều con dại ở các nước chiến tranh tàn phá... Phải trả sữa lại cho những cái miệng bé nhỏ há rộng, lưỡi gần cứng đó, dưới những bầu vú lép... Người ta đương chờ đợi ở một thi sĩ một bài thơ, ở một nhà văn một trang truyện, kêu đòi sữa cho trẻ em [1; tr.187]. Đây là lời kêu gọi góp phần thức tỉnh những tấm lòng nhân ái thức tỉnh tinh thần đấu tranh cho cuộc sống của những trẻ em nghèo. Đồng thời đó còn là một tiếng kêu thống thiết cho kiếp người cùng khổ trong đó có số phận của trẻ em; là lời tố cáo đanh thép xã hội thực dân phong kiến đã cướp đi quyền được sống, được chăm sóc của trẻ em. Từ năm 1939 trở đi, do được hoạt động trong Đoàn thanh niên Dân chủ, sống trong tù và được tiếp xúc với nhiều chiến sĩ Cách mạng, Nguyên Hồng ngày càng có điều kiện tiếp nhận tư tưởng Cách mạng. Vì vậy, ông đã hiểu sâu hơn về sự áp bức bóc lột, về sự bất công trong xã hội thực dân phong kiến. Sẵn mối đồng cảm sâu sắc với những thân phận bé nhỏ trong xã hội, lại được giác ngộ Cách mạng, nên những vấn đề nhà văn đặt ra qua số phận các nhân vật trẻ em đã được nâng lên ở một tầm cao mới đó là: Phải cứu lấy tuổi thơ, cứu lấy những sinh linh vô tội; tất cả mọi người trong xã hội đều phải có trách nhiệm với trẻ em, bởi trẻ em chính là tương lai của dân tộc! Tiếng gọi khẩn thiết ấy vang lên qua từng tác phẩm của nhà văn. Đây là một nét khác biệt so với một số các nhà văn cùng khuynh hướng và cùng thời với Nguyên Hồng. Đây cũng là một đóng góp đáng quí của một nhà văn hiện thực sớm tìm đến với Cách mạng.

    Trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám, ta cũng thường gặp những hình ảnh em bé bị xã hội và gia đình tước đi những niềm vui, niềm hạnh phúc của mình và đặc biệt là phải sống thiếu tình mẫu tử. Những hình tượng nhân vật trẻ em này ít nhiều đều mang bóng dáng của tác giả thời thơ ấu. Đó là những nhân vật như Thạo bé trong Giọt máu, Hồng trong Những ngày thơ ấu, Dũng trong Mợ Du... Tác phẩm Giọt máu là câu chuyện cảm động về một em bé gái nhà nghèo: Thạo bé. Cuộc sống tối tăm nặng nề đói rét, áp bức đã làm cho em có dáng vẻ len lét, sợ sệt, ngơ ngác ngay cả khi ăn uống hay vui chơi. Bố mẹ đi làm, Thạo bé đỡ đần cha mẹ bằng đủ mọi việc như: Quét nhà, rửa bát, trông em... Niềm vui duy nhất của cô bé là được chăm sóc hai luống ngô với mơ ước khi bẻ bắp bán đi sẽ dành dụm tiền mua gà nuôi, bán gà đi để tết may áo mới. Nhưng thành quả lao động của em bị mụ chủ nhà độc ác nhẫn tâm tước đoạt, để trừ nợ tiền nhà của bố mẹ em. Việc tước đi niềm hy vọng và niềm vui nhỏ bé của em đã khiến cho em tiếc nuối, đau xót đến ngơ ngẩn, đến thất thần... Tâm hồn Thạo đã bị tổn thương sâu sắc trước cách sử sự tàn nhẫn của mụ chủ nhà. Em sống như một cái bóng không hồn vậy: Cái bóng còm cõi thường thần mặt ra mà nhìn thiếp vào khoảng không, ngồi hàng giờ không nhúc nhích nhìn ra vườn [1; tr.385]. Người đọc nghẹn ngào, đau đớn cho thân phận những em bé nghèo, nhỏ nhoi, hiền như chiếc lá non, hoàn toàn không có khả năng tự vệ trước giông bão của cuộc đời. Không chỉ bị đối xử bất công ở trong gia đình, ngoài xã hội, mà còn ở ngay trong nhà trường của chế độ thực dân phong kiến - các em cũng bị ngược đãi một cách cực kỳ vô lý. Người thầy giáo trong truyện Những ngày thơ ấu đã đánh đập một cách tàn nhẫn cậu học trò Hồng chỉ vì ông ta lầm tưởng rằng Hồng đã cãi lại ông: Bốp! Chát! Bốp! Chát! Một cái tát đập mạnh vào mặt tôi bằng sức mạnh của một con thú dữ đương cuồng lên, lại một cái tát khác... rồi một cái tát khác. Hai bàn tay của thầy giáo vả vào mặt tôi chẳng kỳ mắt mũi, gò má thái dương... Thầy giáo liền giằng tôi ra và đưa những quả đấm nắm chắc vào mặt tôi... làm máu mũi chảy ròng ròng... ống chân mông đít sống lưng bả vai và hai cánh tay tôi như bị vặt ra từng miệng thịt bởi những đầu thước kẻ... Rắc! Cái thước kẻ quật lên rồi vọt xuống nền nhà [2; tr.245]. Như vậy, trong gia đình, các em bị người thân hắt hủi, đối xử một cách vô trách nhiệm, ở nhà trường các em cũng bị đánh đập dã man; ngoài xã hội thì bị đày đọa, bị lạm dụng sức lao động một cách tàn nhẫn. Trước những nghịch cảnh ấy, trẻ em không tự bảo vệ được mình, chỉ còn biết chống đỡ bằng cách... khóc. Qua những cảnh tượng này Nguyên Hồng đã vạch trần ra những "vết thương xã hội" đã khiến trẻ em phải chịu nhiều tai ương, đau dớn, phải chịu bao uất ức vì bị xúc phạm cả về thể xác lẫn tinh thần. Nguyên Hồng đã hòa nỗi đau đớn ấy vào từng trang viết. Chúng như những mầm cây hoang dã, tự lớn lên trong giông bão mưa gió dập vùi. Số phận đáng thương ấy đã được nhà văn miêu tả rất sinh động, đa dạng và sắc nét, gợi nỗi niềm thương cảm và nỗi xót xa với người đọc. Và cũng chính qua những số phận bé nhỏ đáng thương này, nhà văn cũng thể hiện với tấm lòng yêu thương sâu sắc, tinh thần nhân đạo cao cả của ông.

    2. Những đứa trẻ luôn khao khát hạnh phúc gia đình, giàu mơ ước và lòng nhân hậu

    Như trên đã nói, nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám hầu hết là những em bé nghèo khổ, không có tuổi thơ, không có hạnh phúc nên các em đều khao khát một mái ấm gia đình một cuộc sống tốt đẹp hơn thực tại. Nhưng cuộc sống tối tăm với những hủ tục phong kiến nặng nề đã khiến không biết bao nhiêu gia đình tan nát như gia đình của nhân vật bé Hồng (Những ngày thơ ấu), bé Dũng (Mợ Du), hoặc là cảnh gia đình nhà mụ Đen (Bố con lão Đen), gia đình nhà ụ Mão (Người mẹ không con)... càng khiến các em khát thèm thêm cảnh hạnh phúc gia đình - nhưng nỗi khát thèm đó luôn chỉ là mơ ước xa vời đối với các em mà thôi!

    Nhân vật cậu bé Hồng trong tập hồi ký Những ngày thơ ấu hoặc nhân vật bé Dũng trong truyện ngắn Mợ Du đã phải sống trong cảnh chia lìa tình mẫu tử. Năm tháng thơ ấu phải xa mẹ, lăn lộn trong trường đời với biết bao oan trái cay nghiệt khiến bé Hồng càng khát khao hơn một mái ấm gia đình có sự âu yếm của người mẹ. Nỗi khát khao tình mẹ luôn cháy bỏng trong lòng cậu bé dễ tủi thân và đa cảm ấy. Vì vậy, cậu rất hạnh phúc khi gặp lại người mẹ hiền từ sau bao ngày tháng đằng đẵng xa cách: Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Nơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra thơm tho lạ thường [2; tr.272]. Sự phản ánh hiện thực này của Nguyên Hồng làm người ta nhớ đến Thời thơ ấu của M. Gorki; Không gia đình của Hecto Malo... Điểm gần gũi tương đồng của những tác phẩm này là đã phản ánh chân thực cuộc sống nhọc nhằn đau khổ của trẻ em khi bị gạt ra khỏi đời sống gia đình, bị xã hội đối xử một cách bất công, tàn bạo. Nhưng dù bị đày đọa, vùi dập đến đâu thì chúng vẫn là những đứa trẻ nhân hậu, giàu lòng tương thân tương ái, như Điều trong Con chó vàng, Nhân trong Hai nhà nghề, An trong Mợ Du... Chúng biết đùm bọc và chia sẻ đau buồn với những người cùng cảnh ngộ, biết xót xa, thông cảm với nỗi đau khổ của đồng loại.... Ví dụ như nhân vật Điều trong truyện ngắn Con chó vàng. Sau bao ngày Điều rình rập để ăn cắp túi tiền của ông lão ăn mày bị mù mà không được, vì bên cạnh ông lão có con chó vàng rất tinh khôn, luôn dắt ông lão đi ăn mày và luôn báo động cho lão mỗi khi có chuyện gì nguy hiểm. Điều và Tý Sáu đã bỏ bả để giết con chó vàng. Vậy mà, khi lấy được tiền rồi, nhìn thấy cảnh ông lão vật vã bên xác con chó, lương tâm Điều chợt thức tỉnh, day dứt, ngay lập tức em đã giằng lấy cái bị và ném trả vào lòng ông lão và Điều ôm lấy mặt, lắc lắc đầu nói - Con chó ấy chết thì ông lão chết mất ông lão chết mất! Tội nghiệp ông lão. Tội nghiệp cho ông lão! [1; tr.107]. Hành động của Điều chứng tỏ bản chất lương thiện trong tâm hồn em không hề mất đi dù cuộc sống xô đẩy em vào tình trạng bị lưu manh hoá. Trong sâu thẳm tâm hồn các em, ánh sáng của lương thiện, của tình thương đối với người cùng cảnh ngộ vẫn bừng sáng, khiến người đọc cảm động và vẫn tin vào bản chất tốt đẹp của con người; Hoặc nhân vật em Nhân trong Hai nhà nghề đã quên cả hoàn cảnh đói khát của riêng mình mà thương cảm cho cậu bé múa dao người Tàu đang trổ tài múa dao nguy hiểm cho người xem để mong xin được chút tiền sống qua ngày mà không được, bởi những người đứng xem kia chỉ có thể xem không và ngượng nghịu rút lui [4; tr.103]. Tình thương xót đến người cùng cảnh ngộ của Nhân thật đáng quí, đó là tình cảm Thương người như thể thương thân - vốn là nét đẹp truyền thống đạo lí của người Việt Nam - kể cả với những người nghèo đói nhất. Tình thương vượt qua mọi khoảng cách về biên giới, về dân tộc ấy của nhân vật thật đáng trân trọng biết bao. Bản chất tốt đẹp, sự hướng thiện của trẻ em luôn được nhà văn khẳng định trong sáng tác của mình là bài học sâu sắc cho người lớn. Bởi trong cái xã hội chỉ có đồng tiền ngự trị ấy thì có những người lớn đôi khi cũng lạnh lùng ích kỉ, không có những hành động bênh vực trẻ em, để chúng phải tự bảo vệ mình, tự bênh vực nhau, thương yêu, giúp đỡ đùm bọc nhau trước những khó khăn. Viết về đề tài này, Nguyên Hồng đang đau đáu một sự­ trăn trở: Làm thế nào cho cuộc sống của các em có thể tốt hơn? Làm sao những ước mơ của các em có thể trở thành hiện thực? Ngày nay chúng ta nói nhiều đến việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em, nhưng trước chúng ta hơn nửa thế kỉ, Nguyên Hồng đã thức tỉnh điều này. Lời kêu gọi hãy cứu lấy trẻ em, hãy bảo vệ quyền sống của trẻ em, luôn toát ra từ tác phẩm của ông.

    Đó là một trong những lý do khiến cho tác phẩm của Nguyên Hồng bao giờ cũng thấm đẫm một tinh thần nhân đạo cao cả, bên cạnh một tinh thần phê phán sâu sắc, quyết liệt xã hội thực dân phong kiến đương thời.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Văn Bẩy @ 11:21 25/04/2012
    Số lượt xem: 1372
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chúc thầy sưu tầm được nhiều hơn nữa những tư liệu bổ ích phục vụ cho giảng dạy!

     
    Gửi ý kiến

    Chúng ta cùng cười nhé !