TỔ QUỐC THÂN YÊU


Co To quoc Co Viet Nam Vietnam Flag

Thời gian là vàng ngọc

Nghe nhạc

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    LIÊN KẾT WEBSITE

    Tài nguyên dạy học

    Danh ngôn song ngữ Anh - Việt

    CÂU LẠC BỘ VIOLET

    BẤO MỚI

    Gốc > Tác giả - Tác phẩm >

    Vĩnh Linh - mảnh đất anh hùng

    Ngày 20-7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Vĩ tuyến 17 chạy dọc theo con sông Bến Hải trở thành giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Vĩnh Linh – nơi có con sông Bến Hải chảy qua được thế giới biết đến từ đó.

    Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Ngày 8/2/1965, thất bại trước chiến trường miền Nam, Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Vĩnh Linh bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ và chi viện cho chiến trường miền Nam.

    Trong cuộc chiến tranh hủy diệt Vĩnh Linh của không quân và hải quân Mỹ-Ngụy, mỗi người dân Vĩnh Linh phải gánh chịu 7 tấn bom đạn; 12.124 người bị giết hại (trong đó có 5.581 dân thường); 10.097 người bị thương; 1.713 người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ rải xuống vùng đất này.

    Để hạn chế thương vong tới mức thấp nhất, bám trụ vững chắc làng xóm sản xuất và phục vụ chiến đấu thắng lợi, người dân Vĩnh Linh đã đào 114 địa đạo sâu từ 8 đến 23m, riêng địa đạo Vịnh Mốc dài 1.701m, hàng trăm km hào giao thông, phối hợp cùng các lực lượng vũ trang bắn rơi 293 máy bay các loại trong đó có 7 chiếc B52, bắn chìm và bắn cháy 69 tàu chiến, trong đó có tàu Niu-dơ-ri trọng tải 100.000 tấn.

    Để đảm bảo cho chiến đấu, 4,5 vạn người dân Vĩnh Linh (người già, trẻ em) được sơ tán ra miền Bắc. Lực lượng còn lại bám trụ quê hương vừa sản xuất vừa chiến đấu ở cả ba chiến trường (bảo vệ Vĩnh Linh, chi viện cho đảo Cồn Cỏ, chia lửa với bà con Gio Linh, Cam Lộ). Bảy năm chiến đấu kiên cường chống chiến tranh phá hoại khốc liệt của giặc Mỹ, quân và dân Vĩnh Linh tiếp tục lập nên nhiều chiến công vang dội.

    Vinh Moc
    Làng địa đạo Vịnh Mốc


    Làng địa đạo Vịnh Mốc - Một toà lâu đài cổ trong lòng đất Quảng Trị.

    “Địa đạo Vịnh Mốc giống như một tòa lâu đài cổ nằm im lìm trong lòng đất dấu kín biết bao điều kỳ lạ của con người đã làm ra nó và của thời đại mà nó được sinh ra”. Đó là lời giới thiệu sang trọng về Làng Hầm Vịnh Mốc đối du khách bốn phương trước khi bước xuống cửa địa đạo huyền thoại này.

    Cái tên Vịnh Mốc xuất xứ từ chuyện ngày xưa giữa hai thôn Vĩnh Ân và Thừa Luật có chôn một cột mốc để phân định ranh giới. Phía Bắc lại có một cái vịnh biển dưới mũi Lài. Nên làng biển nằm giữa hai thôn có tên gọi là Vịnh Mốc.

    Vịnh Mốc (thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng chài khiêm nhường có gần 100 nóc nhà nằm trên bờ biển phía đông nam thị trấn Hồ Xá chừng 13km, cách bãi tắm Cửa Tùng 7km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km về phía Tây. Trong kháng chiến chống Mỹ, Vịnh Mốc có một vị thế vô cùng quan trọng trong việc tập kết và vận chuyển lương thực, vũ khí cho đảo Cồn Cỏ.

    Theo nhiều lão thành cách mạng kể lại, thì cuối năm 1963, trên đường từ Trung Ương Cục miền Nam ra Bắc công tác, đồng chí Trần Nam Trung đã ghé thăm Vĩnh Linh. Đồng chí đã giới thiệu kiểu đào địa đạo chiến đấu của quân dân Củ Chi, đông - bắc Sài Gòn, đánh địch rất có hiệu quả. Từ đó Đảng Ủy Khu vực Vĩnh Linh đã chỉ đạo các xã đào địa đạo theo kiểu Củ Chi.

    Vinh Moc 2
    Một cửa hầm dẫn vào địa đạo

    Ở xã Vĩnh Giang có địa đạo Tân Trại Hạ dài 50 mét, thôn Tùng Luật đào địa đạo dài 300 mét. Ngày đó địa đạo được đào rất đơn giản thô sơ, giống như một cái hầm trú ẩn nối dài, chưa thành làng hầm được. Từ khi giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, Vĩnh Linh trở thành chiến trường ác liệt nhất. Bọn giặc dùng máy bay, kể cả máy bay B52, hàng trăm khẩu pháo cỡ 46- 105 ly ở Cồn Tiên - Dốc Miếu và các hạm tàu ngoài khơi ngày đêm điên cuồng trút bom đạn xuống từng tấc đất Vĩnh Linh. Chỉ riêng thôn Vịnh Mốc, diện tích chưa đầy 1 km2 với 300 dân, 82 nóc nhà, mà phải hứng chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ của 1003 trận oanh kích, rải thảm. Ngày 27- 11- 1964, tàu chiến Mỹ từ hạm dội 7 đã bắn đại bác thiêu rụi một lúc 72 ngôi nhà, làm hàng trăm người Vịnh Mốc chết và bị thương. Đến tháng 6 - 1966, thôn Vịnh Mốc bị máy bay Mỹ dội bom hủy diệt. Nhưng người Vịnh Mốc vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu. Vịnh Mốc trở thành một trong hai địa điểm chính tập kết sức người, sức của cho đảo Cồn Cỏ cách mũi Lài 30 km và cũng là nơi triển khai trận địa pháo tầm xa 85 ly, 136 ly chi viện đảo.

    Vào năm 1965, trước sự đánh phá tàn khốc của không quân và pháo binh Mỹ vào Vĩnh Linh, cũng như hầu hết các làng quê khác, Vịnh Mốc đã bị huỷ diệt hoàn toàn. Trước quyết tâm bám trụ quê hương, chi viện cho miền Nam, việc tổ chức phòng tránh cho con người đặt ra hết sức cấp thiết. Với ý chí "một tấc không đi, một li không rời", quân và dân Vĩnh Linh đã chuyển cuộc sống từ mặt đất xuống lòng đất, họ đã kiến tạo một hệ thống làng hầm đồ sộ, độc đáo mà địa đạo Vịnh Mốc là đại diện tiêu biểu nhất.

    Cuối năm 1965, các chiến sĩ đồn biên phòng 140, nhân dân Vịnh Mốc, Sơn Hạ đã chọn quả đồi sát mép biển, nằm ở phía Nam làng Vịnh Mốc, bổ nhát cuốc đầu tiên khai sinh ra làng hầm Vịnh Mốc kỳ vĩ này.
    Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đồn Công an Vịnh Mốc và chi bộ thôn Vịnh Mốc, một tổ xung kích gồm 4 đồng chí đã bổ những nhát cuốc đầu tiên đi vào lòng đất. Sau đó toàn bộ quân và dân Vịnh Mốc thay phiên nhau đào bới. Sau 3 tháng chỉ bằng cuốc thuổng và trí thông minh, vừa đánh giặc vừa đào địa đạo, làng Vịnh Mốc đã huy động 18.000 ngày công, đào đắp 6.000 m3 đất đá, tạo nên trong lòng quả đồi đất đỏ bazan một hệ thống đường hầm địa đạo chằng chịt với rất nhiều cửa ra vào từ tất cả các hướng. 4 đội đào 4 nhánh, hợp lại thành một hệ thống thông suốt gọi là Làng hầm. Bao quanh địa đạo có 8.200 mét giao thông hào chiến đấu. Thật ra để hoàn chỉnh địa đạo Vịnh Mốc, phải mất 3 năm đào (1968) với khối lượng đất đá lên tới 3,76 triệu mét khối!

    Để đào sâu xuống lòng đất, người Vịnh Mốc đã có sáng kiến đào những cái giếng như giếng nước, đến độ sâu quy định thì đào xuyên vào lòng đất. Mỗi tổ đào đường hầm có 20 người, nhưng mỗi kíp đào chỉ có 2 người. Người đào, người chuyển đất ra miệng giếng để người ở trên quay tời kéo lên. Chuyển đất mới lên mặt đất phải đổ thật xa và ngụy trang kín đáo để địch không phát hiện ra. Thời gian đầu ngành Thương nghiệp cung cấp 5 - 7 đôi pin để soi sáng, sau đó pin cũng không còn, nên phải đào bằng đèn dầu hỏa, đất đèn, mỡ lợn để thắp sáng.

    Toàn bộ địa đạo được đào trong lòng quả đồi đất đỏ có độ cao chừng 30m, rộng hơn 7ha. Hệ thống đường hầm cấu trúc hình vòm có kích thước khoảng 0,9m x 1,75m với độ dài 2.034m bao gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 780m, có 13 cửa ra vào, được chống đỡ bằng cột nhà, gỗ và nguỵ trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm.

    Cả làng có 3 trạm cảnh giới. Các ống thông hơi đều bí mật. Tại các cửa đều có khung gỗ chống đổ. Làng hầm không bao giờ ngập nước vì các cửa đều dốc ra ngoài! Làng hầm có 3 tầng với độ sâu và chức năng khác nhau: Tầng 1 có độ sâu 10 mét là nơi sinh sống của nhân dân; tầng 2 có độ sâu 20 mét là trụ sở Đảng ủy, Ủy ban và chỉ huy quân sự. Tầng 3 có độ sâu 20- 28 mét là kho hậu cần với hàng ngàn tấn hàng hóa, súng đạn để tiếp tế cho Cồn Cỏ, cho miền Nam và phục vụ chiến đấu tại địa đạo. Theo bà con Vịnh Mốc kể, thì ông Lê Xuân Vy là người có sáng kiến dùng ống dẫn dầu dựng đứng thông từ mặt đất xuống để chuyển gạo xuống địa đạo, vì vác từng bao gạo xuống hầm sâu là rất khó khăn. Khi gạo đầy ở tầng một thì mở van cho gạo xuống tầng hai, tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức.

    Để đảm bảo cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta khoét vào rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho 3 - 4 người ở. Lúc đông nhất trong địa đạo có 1.200 con người sinh sống. Ngoài ra trong đường hầm còn có hội trường (sức chứa hơn 150 người dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim), 3 giếng nước, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm phẫu thuật, trạm gác, máy điện thoại… đặc biệt có nhà hộ sinh, nơi ra đời của 17 đứa trẻ.

    vinh moc 1
    Nhà hộ sinh trong địa đạo Vịnh Mốc


    Từ năm 1966 đến năm 1972 quân đội Mỹ đã trút xuống đây hơn 9.000 tấn bom đạn. Việc tổ chức phòng tránh, bảo vệ địa đạo rất phức tạp, đòi hỏi tính tổ chức, tự giác cao, bởi lẽ không chỉ đạn bom trút xuống mà còn người nhái, gián điệp tìm cách xâm nhập. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại (từ 1965 - 1972), việc 17 đứa trẻ ra đời an toàn, không một người nào bị thương đã nói lên sự lựa chọn đúng đắn, là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây.
    Địa đạo Vịnh Mốc là hình ảnh thu nhỏ của một làng quê Việt Nam được xây dựng và kiến tạo dưới lòng đất. Dân làng Vịnh Mốc đã sống 2000 ngày đêm dưới Làng Hầm. Ban ngày họ chuẩn bị mọi thứ, để ban đêm lên mặt đất trồng khoai, vận tải hàng, ra biển đánh cá, ra biển vận tải hàng cho đảo Cồn Cỏ, ra bến đò A chi viện cho miền Nam. Và người Vịnh Mốc đã tồn tại và chiến thắng!

    Hơn thế nữa, vượt qua hoàn cảnh, họ không chỉ tồn tại mà còn tổ chức hàng trăm chuyến thuyền nan tiếp vận cho đảo Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ đứng vững và được Nhà nước tuyên dương anh hùng hai lần trong đó có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân làng hầm Vịnh Mốc.

    Đây thực sự là một công trình trí tuệ và sự nỗ lực phi thường của quân và dân Vịnh Mốc và lực lượng vũ trang. Trong điều kiện khó khăn thiếu thốn và luôn bị địch rình rập, đánh phá, quân dân Vịnh Mốc - Vĩnh Thạch đã đồng lòng góp sức, tổ chức khoa học hợp lý hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ.
    Với hơn 18.000 ngày công, đào và vận chuyển ra khỏi lòng đất hơn 6.000m3 đất đá, mỗi mét đường hầm thực sự là kết tinh tình cảm, trí tuệ, ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân dân. Từ cụ già chế tác dụng cụ đến nồi nước chè xanh, bữa cơm đạm bạc của các mẹ, các chị và sức lực cường tráng của các chàng trai. Làng hầm ra đời đã tạc vào lịch sử của quân dân Vĩnh Linh, Quảng Trị một nét son rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

    Chiến tranh đã lùi xa, còn đó một làng hầm huyền thoại ngày ngày truyền lại niềm tin, ý chí cho thế hệ hôm nay và mai sau về sức mạnh nội lực của dân tộc VN. Từ đây, tất thảy bạn bè và những người từng là "kẻ thù" đều phải thừa nhận sự thần kỳ của một đất nước, một dân tộc mà sự tồn tại và chiến thắng của nó là tất yếu. Có rất nhiều dòng cảm xúc về làng hầm này, tất cả đều công nhận "Làng địa đạo Vịnh Mốc giống như một toà lâu đài cổ nằm im lìm trong lòng đất giấu kín biết bao điều kỳ lạ về những con người đã làm ra nó và thời đại nó đã sinh ra".

    Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá - Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc là điểm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo.

    L.T.H.1

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Vy @ 16:44 25/07/2011
    Số lượt xem: 1097
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    VT 17 - Quê hương của V. Thầy ghé thăm nhé.
     
    Gửi ý kiến

    Chúng ta cùng cười nhé !